XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ, QUYỀN LIÊN QUAN KHÔNG CHỈ BỊ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH MÀ CÓ THỂ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Trong bối cảnh kinh tế số và hoạt động sáng tạo ngày càng phát triển, quyền tác giả và quyền liên quan đã trở thành một loại tài sản trí tuệ có giá trị kinh tế lớn và được pháp luật bảo hộ chặt chẽ. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít cá nhân, tổ chức vẫn còn tâm lý chủ quan khi sử dụng tác phẩm âm nhạc, phim ảnh, phần mềm, hình ảnh hoặc các sản phẩm sáng tạo khác mà chưa được sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, cho rằng đây chỉ là hành vi vi phạm hành chính hoặc tranh chấp dân sự. Thực tế, đối với những hành vi xâm phạm có tính chất nghiêm trọng, được thực hiện nhằm mục đích thương mại và đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm, người vi phạm không chỉ phải bồi thường thiệt hại hoặc chịu xử phạt vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 225 của Bộ luật Hình sự với tội danh “Xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan”.
Quyền tác giả, quyền liên quan là gì?
Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 định nghĩa về quyền tác giả, quyền liên quan như sau:
“2. Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
3. Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.”
Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Căn cứ Điều 19 và Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định cụ thể về quyền nhân thân và quyền tài sản như sau:
- Quyền nhân thân bao gồm các quyền: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố sử dụng; công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm; không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
- Quyền tài sản bao gồm các quyền:làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
Khi nào hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan bị xử lý hình sự?
Không phải mọi hành vi xâm phạm quyền tác giả đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chỉ khi hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và đáp ứng các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật thì người vi phạm mới bị xử lý hình sự.
Các yếu tố cấu thành tội phạm:
1. Hành vi vi phạm:
Theo quy định tại Điều 225 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan là cố ý sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình; phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng mà không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan.
Theo đó, không nhất thiết phải có tất cả các hành vi trên mới cấu thành tội phạm mà chỉ cần cố ý thực hiện một trong các hành vi sao chép hoặc phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm để thu lợi bất chính là đã cấu thành tội “xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan”.
2. Chủ thể:
- Chủ thể của tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan không phải là chủ thể đặc biệt. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, bất kỳ cá nhân nào đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể trở thành chủ thể của tội phạm này. Tuy nhiên, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội danh này do Điều 225 không thuộc các tội phạm mà nhóm tuổi này phải chịu trách nhiệm theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự.
- Bên cạnh cá nhân, pháp nhân thương mại cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, tuy nhiên không phải pháp nhân thương mại nào cũng là chủ thể của tội phạm này, chỉ có pháp nhân thương mại có đủ các yếu tố theo quy định pháp luật mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Theo đó, pháp nhân thương mại là doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, có tư cách pháp nhân và hoạt động với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật có liên quan.
3. Đối tượng tác động
Đối tượng tác động của tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan là các tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình và bản sao của tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình.
Theo quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, phạm vi và tính chất của các tác phẩm được bảo hộ rất rộng, các loại hình tác phẩm thuộc đối tượng được bảo hộ bao gồm:
“1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm:
a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;
b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;
c) Tác phẩm báo chí;
d) Tác phẩm âm nhạc;
đ) Tác phẩm sân khấu;
e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh);
g) Tác phẩm mỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng;
h) Tác phẩm nhiếp ảnh;
i) Tác phẩm kiến trúc;
k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học;
l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;
m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.
2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh.
3. Tác phẩm được bảo hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác.
4. Chính phủ hướng dẫn cụ thể về các loại hình tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này.”
4. Hậu quả của tội phạm
Đối với tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, hậu quả là một trong những dấu hiệu bắt buộc để xác định trách nhiệm hình sự.
Khác với nhiều tội phạm khác chỉ cần có hành vi vi phạm là có thể cấu thành tội phạm, Điều 225 Bộ luật Hình sự chỉ đặt ra trách nhiệm hình sự khi hành vi xâm phạm nhằm mục đích thương mại và gây ra những hậu quả hoặc đạt đến mức độ nguy hiểm nhất định do luật quy định. Cụ thể, người thực hiện hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lênhoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng trở lên hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng trở lên.
Do đó, việc xác định hậu quả của hành vi xâm phạm có ý nghĩa quyết định trong việc phân biệt giữa vi phạm hành chính và tội phạm, đồng thời là căn cứ quan trọng để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm.
Pháp luật hình sư quy định mức hình phạt như thế nào đối với tội “xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan”?
Theo quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015 về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan như sau:
“1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:
a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;
b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;
d) Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên;
đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”
Kết luận
Quyền tác giả và quyền liên quan là một trong những quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật Việt Nam bảo hộ nghiêm ngặt. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh ngày càng gắn liền với việc khai thác các tác phẩm trên môi trường số, mỗi cá nhân và doanh nghiệp cần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, tránh tâm lý cho rằng việc sử dụng trái phép tác phẩm chỉ bị xử phạt hành chính hoặc giải quyết bằng bồi thường dân sự. Thực tế, nếu hành vi vi phạm có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015, người vi phạm hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với những chế tài nghiêm khắc. Việc chủ động tuân thủ quy định về quyền tác giả, quyền liên quan không chỉ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền mà còn là giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro pháp lý trong quá trình hoạt động.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
