NGƯỜI TỪ ĐỦ 12 TUỔI ĐẾN DƯỚI 18 TUỔI CÓ ĐƯỢC HOÃN HOẶC MIỄN CHẤP HÀNH QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐƯA ĐI CAI NGHIỆN?
Việc áp dụng biện pháp đưa người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc luôn là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội. Bởi lẽ, đây là nhóm đối tượng chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý và nhận thức, nên mọi quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đều phải đặt lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên lên hàng đầu.
Nhằm bảo đảm tính nhân đạo và phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16 về trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc (có hiệu lực từ ngày 01/08/2026). Một trong những điểm đáng chú ý nhất của văn bản này là quy định chi tiết về thủ tục hoãn, miễn chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc.
Những trường hợp được xem xét hoãn, miễn chấp hành quyết định
Việc hoãn chấp hành quyết định không đồng nghĩa với việc chấm dứt nghĩa vụ cai nghiện bắt buộc, mà chỉ là việc tạm thời chưa thi hành quyết định trong một khoảng thời gian nhất định khi người phải chấp hành thuộc trường hợp đặc biệt. Sau khi lý do hoãn không còn, người phải chấp hành vẫn tiếp tục thực hiện quyết định đã được ban hành.
Khác với việc hoãn, miễn chấp hành quyết định là trường hợp người phải chấp hành không còn phải tiếp tục thực hiện quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nếu thuộc một trong những trường hợp pháp luật quy định. Việc miễn chỉ được xem xét trên cơ sở hồ sơ, tài liệu chứng minh và phải do cơ quan có thẩm quyền quyết định. Điều này nhằm bảo đảm việc áp dụng chính sách đúng đối tượng, tránh tình trạng lạm dụng hoặc áp dụng tùy tiện.
Theo quy định tại Điều 39 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, các trường hợp được hoãn, miễn, tạm đình chỉ chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện ma túy được quy định như sau:
“Điều 39. Hoãn, miễn, tạm đình chỉ chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện ma túy
1. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa đến cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng được hoãn chấp hành quyết định trong trường hợp đang ốm nặng có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản trở lên hoặc trong trường hợp gia đình đang có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú xác nhận.
Khi điều kiện hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.
2. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa đến cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:
a) Mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đang điều trị hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản trở lên;
b) Trong thời gian hoãn chấp hành quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà người đó không còn nghiện ma túy;
c) Đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện theo quy định pháp luật.
3. Trong trường hợp người đang chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng bị ốm nặng mà được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định và thời gian điều trị được tính vào thời hạn chấp hành quyết định. Sau khi sức khỏe phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ 03 tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành quyết định. Đối với người mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại. […]“.
Chủ thể có thẩm quyền quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định?
Đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, việc xem xét hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định không được thực hiện tự động mà phải thông qua trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Tùy từng giai đoạn của quá trình thi hành quyết định, thẩm quyền xem xét thuộc Tòa án nhân dân có thẩm quyền hoặc cơ quan được pháp luật giao nhiệm vụ. Quyết định sau khi ban hành phải được gửi đến cơ quan công an cấp xã, người phải chấp hành hoặc cha mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp để bảo đảm quyền được biết và thực hiện theo đúng quy định.
Căn cứ khoản 4 Điều 39 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, thẩm quyền quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện ma túy được quy định như sau:
“4. Tòa án nhân dân khu vực, Giám đốc Công an cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét, quyết định việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết định hoặc đơn đề nghị của cha, mẹ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người phải chấp hành quyết định từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi. Quyết định miễn hoặc hoãn chấp hành quyết định phải được gửi cho Công an cấp xã nơi đã lập hồ sơ đề nghị và người phải chấp hành quyết định hoặc cha, mẹ, người giám hộ, người đại diện hợp pháp của người phải chấp hành quyết định từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi. […]”
Căn cứ Điều 28 Pháp lệnh Trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc năm 2026 quy định về người có quyền đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc như sau:
“Điều 28. Người có quyền đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc
- Khi có một trong các căn cứ hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy, người phải chấp hành quyết định, cha, mẹ hoặc người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người phải chấp hành quyết định có quyền nộp đơn đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc đến Tòa án đã ra quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc để xem xét, quyết định.
- Đơn đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc, kèm theo các tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy được gửi cho Tòa án theo quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh này.”
Trình tự, thủ tục giải quyết đơn đề nghị hoãn, miễn tại Tòa án
Căn cứ Điều 29 Pháp lệnh số 03/2026/UBTVQH16 quy định về việc nhận, thụ lý đơn đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc như sau:
“Điều 29. Nhận, thụ lý đơn đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc
1. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị và tài liệu kèm theo, Tòa án phải thụ lý và phân công Thẩm phán xem xét, giải quyết, đồng thời thông báo bằng văn bản cho người có đơn đề nghị, Viện kiểm sát cùng cấp và Trưởng Công an cấp xã đã lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét và ra quyết định; trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát cùng cấp và Trưởng Công an cấp xã đã lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc có ý kiến bằng văn bản trước khi Tòa án ra quyết định.
3. Sau khi xem xét hồ sơ kèm theo đơn đề nghị, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:
a) Chấp nhận đơn đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc;
b) Không chấp nhận đơn đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc.
Quyết định về việc hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc phải có các nội dung chính sau đây:
a) Số, ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Họ và tên Thẩm phán;
d) Họ và tên người có đơn đề nghị;
đ) Họ và tên Trưởng Công an cấp xã đã lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc;
e) Họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính; số định danh cá nhân, căn cước công dân, căn cước hoặc hộ chiếu; nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa của người được đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc;
g) Lý do, căn cứ ra quyết định;
h) Nội dung việc hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc;
i) Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành quyết định;
k) Quyền khiếu nại đối với quyết định;
l) Hiệu lực của quyết định;
m) Nơi nhận quyết định.
4. Quyết định về việc hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh này và phải được gửi cho Công an cấp xã nơi đã lập hồ sơ đề nghị đưa đi cai nghiện bắt buộc, Công an cấp xã nơi người phải chấp hành quyết định đang cư trú, người phải chấp hành quyết định, cha, mẹ hoặc người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp của người phải chấp hành quyết định, Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định.”
Có thể thấy, thời hạn thẩm phán phải xem xét và ra quyết định về việc hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc là 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công cho thấy quy định mới bảo đảm tính kịp thời và quyền lợi của người chưa thành niên.
Kết luận
Việc cho phép người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi được xem xét hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc là một bước tiến trong chính sách pháp luật về phòng, chống ma túy, thể hiện sự cân bằng giữa yêu cầu quản lý nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên.
Trong thực tiễn, mỗi vụ việc đều có những tình tiết và điều kiện riêng. Do đó, cá nhân hoặc gia đình có người thuộc diện áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc nên chủ động tìm hiểu quy định pháp luật hoặc tham khảo ý kiến luật sư để được hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết vụ việc.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
