MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Mang thai hộ là vấn đề nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân, quan hệ hôn nhân và gia đình cũng như việc bảo vệ sức khỏe của phụ nữ và trẻ em. Pháp luật Việt Nam không cấm tuyệt đối việc mang thai hộ mà cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trong những điều kiện nhất định. Ngược lại, mang thai hộ vì mục đích thương mại là hành vi bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm.
Thực tế gần đây xuất hiện các đường dây tổ chức mang thai hộ có yếu tố nước ngoài, trong đó người có nhu cầu, người mang thai hộ và người môi giới được kết nối, thậm chí thực hiện một số công đoạn ở nước ngoài nhằm tránh sự kiểm soát của cơ quan chức năng. Vấn đề đặt ra là: Nếu người Việt Nam sang nước ngoài để thực hiện việc cấy phôi rồi trở về Việt Nam dưỡng thai, sinh nở và giao trẻ, hành vi này có nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam hay không?
1. Phân biệt mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại
Mang thai hộ theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 bao gồm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại.
Theo quy định tại khoản 22 và khoản 23 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 định nghĩa về 02 khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại như sau:
“22. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.
22. Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác.”
Như vậy, điểm mấu chốt để phân biệt hai trường hợp không chỉ nằm ở việc có sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hay không mà còn ở mục đích của việc mang thai hộ. Nếu việc mang thai hộ được thực hiện nhằm nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác thì có thể bị xác định là mang thai hộ vì mục đích thương mại.
2. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải đáp ứng điều kiện gì?
Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.
Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không được trái với quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
“2. Vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;
b) Vợ chồng đang không có con chung;
c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;
b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;
c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;
d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;
đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.
Ngoài các điều kiện về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị định số 207/2025/NĐ-CP ngày 15/7/2025 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 01/10/2025 cũng quy định cụ thể về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Theo đó, cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng phải đáp ứng điều kiện nhất định như sau:
“Điều 12. Điều kiện của cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
- Có ít nhất 02 năm kinh nghiệm thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, trong đó 02 năm gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ phải thực hiện được tối thiểu là 500 chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm mỗi năm.
- Có người tư vấn về y tế là bác sĩ chuyên khoa phụ sản, người tư vấn về tâm lý có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên hoặc bác sĩ có chứng chỉ đào tạo về lĩnh vực tâm lý, người tư vấn về pháp lý có trình độ cử nhân luật trở lên. Người tư vấn về y tế phải là nhân sự của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Người tư vấn về tâm lý, tư vấn pháp lý là nhân sự của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc là nhân sự hợp tác theo quy định của pháp luật.”
Có thể thấy, pháp luật Việt Nam quy định đặc biệt chặt chẽ và cụ thể về vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Do đó, nếu các bên thực hiện mang thai hộ ngoài khuôn khổ điều kiện, thủ tục và cơ sở y tế được pháp luật cho phép thì không thể chỉ dựa vào việc các bên tự nguyện thỏa thuận để xác định hành vi là hợp pháp.
3. Sang nước ngoài cấy phôi có “né” được pháp luật Việt Nam không?
Đây là vấn đề đáng chú ý trong các đường dây mang thai hộ xuyên biên giới.
Theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, việc thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại là một trong các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.
Về nguyên tắc, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Bộ luật Hình sự 2015 về hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam như sau:
“1. Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.
Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.”
Như vậy, việc một “công đoạn” được thực hiện ở nước ngoài không đương nhiên làm cho toàn bộ hành vi trở thành hợp pháp hoặc loại trừ trách nhiệm pháp lý tại Việt Nam. Nếu các hành vi được thực hiện có tổ chức và có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm theo pháp luật Việt Nam, người thực hiện vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định tương ứng.
Đây cũng là lý do việc “đưa người ra nước ngoài thực hiện một công đoạn” không thể được xem như một phương thức đương nhiên để né tránh trách nhiệm pháp lý.
4. Mức phạt vi phạm hành chính được quy định như thế nào?
Theo quy định tại Điều 43 Nghị định 90/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm các quy định về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:
“Điều 43. Vi phạm các quy định về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Người tư vấn về y tế cho vợ chồng nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ không phải là bác sỹ chuyên khoa phụ sản;
b) Người tư vấn về tâm lý cho vợ chồng nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ không phải là người có trình độ đại học chuyên khoa tâm lý trở lên hoặc bác sỹ có chứng chỉ đào tạo về lĩnh vực tâm lý;
c) Người tư vấn về pháp lý cho vợ chồng nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ không phải là người có trình độ cử nhân luật trở lên;
d) Người tư vấn về tâm lý, tư vấn pháp lý không phải là nhân sự của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc nhân sự hợp tác theo quy định của pháp luật;
đ) Cơ sở được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo không trả lời bằng văn bản hoặc không nêu rõ lý do không thực hiện việc mang thai hộ cho người nhờ mang thai hộ trong thời hạn 10 ngày làm việc từ khi nhận đủ hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;
e) Không tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý cho vợ chồng nhờ mang thai hộ hoặc tư vấn không đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật;
g) Không tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý cho người mang thai hộ hoặc tư vấn không đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật;
h) Không xác nhận việc tư vấn cho bên nhờ mang thai hộ và/hoặc bên mang thai hộ về y tế, tâm lý, pháp lý;
i) Tư vấn cho vợ chồng nhờ mang thai hộ và người mang thai hộ không đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật;
k) Không khám sức khỏe cho người mang thai hộ, cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ hoặc không xác nhận về việc người vợ bên nhờ mang thai hộ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc không xác nhận khả năng mang thai hộ của người phụ nữ mang thai hộ sau khi nhận đủ hồ sơ theo quy định của pháp luật;
l) Không thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trong trường hợp người mang thai hộ và cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ đáp ứng đủ điều kiện sức khỏe để thực hiện việc mang thai hộ.
2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp thông tin hoặc xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của vợ chồng nhờ mang thai hộ, người mang thai hộ, trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
3. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây.
a) Thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa được phép thực hiện kỹ thuật này;
b) Không bảo đảm điều kiện sau khi đã được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; trừ điều kiện phải thực hiện được tối thiểu 500 chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm mỗi năm;
c) Thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cho người không đủ hồ sơ theo quy định của pháp luật.
4. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Đình chỉ hoạt động mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trong thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng đối với cơ sở vi phạm từ 03 hành vi trở lên trong các hành vi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này tại thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;
b) Đình chỉ hoạt động liên quan đến hành vi vi phạm trong thời hạn từ 06 tháng đến 12 tháng đối với hành vi quy định tại khoản 3 Điều này.”
Ngoài ra, đối với người trực tiếp mang thai hộ vì mục đích thương mại cũng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về sinh con theo quy định tại Điều 63 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, cụ thể:
“Điều 63. Hành vi vi phạm quy định về sinh con
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, sinh sản vô tính, mang thai hộ vì mục đích thương mại.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.”
5. Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại có thể bị xử lý hình sự
Theo quy định tại Điều 187 Bộ luật Hình sự năm 2015 về Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại như sau:
“Điều 187. Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại
1. Người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Trong thực tiễn xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét vai trò của từng người trong đường dây như người chủ mưu, người môi giới, người tìm kiếm người có nhu cầu, người tuyển chọn phụ nữ mang thai hộ, người bố trí nơi ở, chăm sóc thai phụ hoặc thực hiện các công đoạn khác trong quá trình tổ chức mang thai hộ để xác định trách nhiệm pháp lý tương ứng.
Kết luận
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một chính sách được pháp luật Việt Nam thừa nhận trong phạm vi và điều kiện nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của những cặp vợ chồng không thể tự mang thai và sinh con. Tuy nhiên, việc biến hoạt động này thành một “dịch vụ đẻ thuê” nhằm mục đích thu lợi lại là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.
Đặc biệt, việc tổ chức đường dây mang thai hộ xuyên biên giới, tuyển chọn người mang thai hộ, thu tiền, trả tiền và thực hiện các công đoạn liên quan không phải là vấn đề đơn thuần của giao dịch dân sự mà có thể kéo theo trách nhiệm hình sự nghiêm khắc nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Do đó, cá nhân có nhu cầu mang thai hộ hoặc đang được mời chào tham gia các dịch vụ mang thai hộ cần thận trọng, tìm hiểu đầy đủ quy định pháp luật và thực hiện đúng quy trình được pháp luật cho phép, thay vì lựa chọn các đường dây môi giới không hợp pháp để tránh những hậu quả pháp lý đáng tiếc.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
