Dư nợ bằng 0 nhưng chưa giải chấp: Chủ tài sản phải làm gì?
DƯ NỢ BẰNG 0 NHƯNG CHƯA GIẢI CHẤP: QUYỀN CỦA CHỦ TÀI SẢN VÀ GIỚI HẠN XỬ LÝ HÌNH SỰ

Trong thực tiễn tín dụng, không ít trường hợp cá nhân hoặc doanh nghiệp sử dụng tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay của người khác. Khi khoản vay đã được thanh toán, ngân hàng xác nhận dư nợ bằng 0 nhưng bên vay không phối hợp, hồ sơ thế chấp không được tất toán, Giấy chứng nhận vẫn chưa được trả lại hoặc đăng ký thế chấp vẫn tồn tại trên cơ sở dữ liệu đất đai.
Tình trạng này khiến chủ sở hữu không thể chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp hoặc khai thác đầy đủ giá trị của tài sản. Vấn đề đặt ra là: dư nợ bằng 0 có đồng nghĩa với việc thế chấp chấm dứt hay không; chủ tài sản có thể tự giải chấp hay phải thông qua bên vay; và việc cố tình kéo dài có cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản không?
1. “Dư nợ bằng 0” chưa phải lúc nào cũng đồng nghĩa toàn bộ nghĩa vụ đã chấm dứt

Trước hết, cần phân biệt hai khái niệm:
Dư nợ của một khoản vay tại một thời điểm bằng 0;
Toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản đã chấm dứt.
Trong hợp đồng tín dụng thông thường, nếu bên vay đã thanh toán đầy đủ tiền gốc, lãi, lãi quá hạn, phí và các nghĩa vụ liên quan thì nghĩa vụ được bảo đảm có thể được xác định là đã chấm dứt.
Tuy nhiên, một số hợp đồng thế chấp được lập để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ, nghĩa vụ phát sinh trong tương lai, nghĩa vụ theo hạn mức tín dụng, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng hoặc toàn bộ quan hệ tín dụng giữa khách hàng với ngân hàng. Khi đó, việc một khoản vay cụ thể có dư nợ bằng 0 chưa chắc đã làm chấm dứt toàn bộ phạm vi bảo đảm.
Vì vậy, trước khi yêu cầu giải chấp, chủ tài sản cần kiểm tra:

Hợp đồng thế chấp bảo đảm cho khoản vay cụ thể hay cho toàn bộ nghĩa vụ;
Thời hạn của nghĩa vụ bảo đảm;
Có khoản phí, nghĩa vụ bảo lãnh hoặc cam kết tín dụng nào chưa kết thúc hay không;
Ngân hàng xác nhận “dư nợ khoản vay bằng 0” hay xác nhận “toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm đã chấm dứt”;
Tài sản có đồng thời bảo đảm cho nghĩa vụ khác hay không.
Đây là điểm đặc biệt quan trọng bởi văn bản xác nhận dư nợ bằng 0 nhưng không xác định rõ toàn bộ nghĩa vụ đã chấm dứt có thể chưa đủ để thực hiện thủ tục xóa đăng ký thế chấp.
2. Khi toàn bộ nghĩa vụ chấm dứt, quan hệ thế chấp cũng phải chấm dứt
Điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thế chấp tài sản chấm dứt khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp chấm dứt; việc thế chấp bị hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác; tài sản thế chấp đã được xử lý; hoặc theo thỏa thuận của các bên.
Như vậy, nếu tài sản chỉ bảo đảm cho một nghĩa vụ xác định và nghĩa vụ đó đã được thực hiện đầy đủ thì căn cứ tồn tại của biện pháp thế chấp không còn.
Cần lưu ý rằng chấm dứt thế chấp và xóa đăng ký thế chấp là hai vấn đề có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất:
Chấm dứt thế chấp là hậu quả pháp lý trong quan hệ dân sự giữa các bên;
Xóa đăng ký là thủ tục ghi nhận sự chấm dứt đó tại cơ quan đăng ký.
Nếu nghĩa vụ đã kết thúc nhưng chưa thực hiện xóa đăng ký, thông tin thế chấp vẫn có thể tồn tại trên cơ sở dữ liệu. Điều này tiếp tục gây trở ngại cho việc thực hiện quyền của chủ tài sản đối với người thứ ba.
Theo quy định hiện hành về đăng ký biện pháp bảo đảm, toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm bị chấm dứt là một trong những căn cứ để nộp hồ sơ xóa đăng ký. Quy định này hiện được thể hiện tại Điều 20 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP, đã được hợp nhất sau khi có nội dung sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ ngày 15/01/2026.

3. Ngân hàng có nghĩa vụ phối hợp giải chấp và trả giấy tờ
Trong quan hệ thế chấp bất động sản, ngân hàng thường là bên nhận thế chấp và là bên giữ bản gốc Giấy chứng nhận theo thỏa thuận.
Khi nghĩa vụ được bảo đảm đã chấm dứt, bên nhận thế chấp không còn căn cứ để tiếp tục hạn chế quyền định đoạt tài sản. Việc tất toán khoản vay nhưng không hoàn tất hồ sơ giải chấp có thể làm phát sinh trách nhiệm dân sự nếu gây thiệt hại cho chủ tài sản.
Trên thực tế, ngân hàng thường phải thực hiện các công việc sau:
Xác nhận khoản vay và toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm đã hoàn thành;
Ký phiếu yêu cầu xóa đăng ký thế chấp;
Ban hành văn bản giải chấp hoặc xác nhận hợp đồng bảo đảm đã chấm dứt;
Trả lại bản gốc Giấy chứng nhận và giấy tờ liên quan;
Phối hợp với bên bảo đảm thực hiện thủ tục tại Văn phòng đăng ký đất đai.
Trường hợp ngân hàng vẫn cho rằng nghĩa vụ chưa chấm dứt, ngân hàng cần nêu rõ nghĩa vụ còn tồn tại, số tiền, căn cứ phát sinh và phạm vi tài sản tiếp tục bảo đảm. Việc chỉ trả lời chung chung rằng “hồ sơ chưa đủ điều kiện” hoặc yêu cầu chủ tài sản tiếp tục chờ nhưng không xác định rõ căn cứ có thể làm phát sinh tranh chấp.
4. Chủ tài sản có thể tự yêu cầu xóa đăng ký hay không?
Về nguyên tắc, người yêu cầu xóa đăng ký có thể là bên nhận bảo đảm, bên bảo đảm hoặc người có quyền hợp pháp khác tùy từng trường hợp.
Tuy nhiên, đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hồ sơ xóa đăng ký hiện nay gồm Phiếu yêu cầu theo mẫu và bản gốc Giấy chứng nhận nếu tài sản có Giấy chứng nhận.
Nếu người yêu cầu xóa đăng ký không phải là bên nhận bảo đảm và Phiếu yêu cầu không có chữ ký, con dấu của bên nhận bảo đảm thì phải có thêm một trong các tài liệu chứng minh, trong đó có:
Văn bản thể hiện bên nhận bảo đảm đồng ý xóa đăng ký;
Văn bản xác nhận hợp đồng bảo đảm đã chấm dứt;
Văn bản xác nhận hợp đồng đã được thanh lý;
Văn bản xác nhận giải chấp;
Bản án, quyết định hoặc tài liệu có hiệu lực pháp luật trong những trường hợp tương ứng.
Do đó, chủ tài sản có thể trực tiếp làm việc với ngân hàng mà không nhất thiết phải thông qua bên vay. Tuy nhiên, việc có tự mình hoàn tất thủ tục xóa đăng ký hay không còn phụ thuộc vào tài liệu mà chủ tài sản đang giữ.
Nếu ngân hàng đã cấp văn bản xác nhận giải chấp hoặc đã ký vào Phiếu yêu cầu, chủ tài sản có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký.
Ngược lại, nếu chủ tài sản chỉ có văn bản xác nhận dư nợ bằng 0 nhưng ngân hàng không ký hồ sơ và không xác nhận hợp đồng thế chấp đã chấm dứt thì cơ quan đăng ký có thể yêu cầu bổ sung tài liệu.
Một điểm mới đáng chú ý của quy định được hợp nhất năm 2026 là trong một số trường hợp, nếu Giấy chứng nhận không được nộp lại thì việc xóa đăng ký vẫn có hiệu lực từ thời điểm Văn phòng đăng ký đất đai cập nhật nội dung xóa trên cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, khả năng áp dụng còn phụ thuộc vào hồ sơ và trường hợp đăng ký cụ thể.
5. Bên vay không phối hợp có làm mất quyền yêu cầu của chủ tài sản không?

Trong trường hợp tài sản của người thứ ba được dùng để bảo đảm cho nghĩa vụ của bên vay, quan hệ pháp lý thường có ít nhất ba chủ thể:
Chủ tài sản hoặc bên bảo đảm;
Bên vay hoặc bên có nghĩa vụ;
Ngân hàng hoặc bên nhận bảo đảm.
Khi nghĩa vụ đã được thanh toán, quyền yêu cầu giải chấp trước hết thuộc về chủ tài sản và người có quyền lợi trực tiếp đối với tài sản. Bên vay không thể lấy lý do không đồng ý hoặc không phối hợp để kéo dài vô thời hạn tình trạng thế chấp nếu toàn bộ nghĩa vụ đã thực sự chấm dứt.
Tuy nhiên, nếu hợp đồng giữa chủ tài sản và bên vay quy định bên vay phải thực hiện thủ tục giải chấp, nhận và trả lại Giấy chứng nhận thì việc bên vay không thực hiện còn có thể bị xem là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
Chủ tài sản khi đó có quyền yêu cầu:
Buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ phối hợp;
Buộc trả lại Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ đã nhận;
Bồi thường thiệt hại phát sinh;
Thanh toán khoản phạt vi phạm nếu hợp đồng có thỏa thuận;
Chấm dứt hợp đồng mượn tài sản, ủy quyền hoặc thỏa thuận bảo lãnh theo căn cứ pháp luật.
Thiệt hại có thể bao gồm chi phí đi lại, chi phí luật sư, chi phí ngăn chặn rủi ro, khoản lợi ích bị mất do không thể bán hoặc thế chấp tài sản. Tuy nhiên, người yêu cầu bồi thường phải chứng minh được thiệt hại thực tế, hành vi vi phạm và quan hệ nhân quả.
6. Quy trình xử lý nên được thực hiện như thế nào?
Bước 1: Xác minh chính xác tình trạng nghĩa vụ
Chủ tài sản nên yêu cầu ngân hàng cung cấp văn bản xác nhận:
Toàn bộ dư nợ gốc, lãi và phí bằng 0;
Không còn nghĩa vụ bảo lãnh hoặc nghĩa vụ trong tương lai;
Tài sản không bảo đảm cho khoản vay hoặc nghĩa vụ nào khác;
Hợp đồng thế chấp đã chấm dứt;
Ngân hàng đồng ý xóa đăng ký thế chấp và trả lại Giấy chứng nhận.
Văn bản càng rõ thì khả năng xử lý thủ tục càng thuận lợi.
Bước 2: Gửi văn bản yêu cầu chính thức
Văn bản nên gửi đồng thời cho ngân hàng và bên vay, trong đó ghi rõ:
Nguồn gốc tài sản;
Căn cứ đưa tài sản vào bảo đảm;
Phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm;
Văn bản xác nhận dư nợ bằng 0;
Thời điểm hợp đồng hoặc nghĩa vụ đã chấm dứt;
Yêu cầu ký hồ sơ giải chấp, xóa đăng ký và trả giấy tờ;
Thời hạn thực hiện;
Trách nhiệm bồi thường nếu tiếp tục chậm trễ.
Nên gửi bằng phương thức có thể chứng minh việc giao nhận như thư bảo đảm, chuyển phát có xác nhận, email chính thức hoặc lập vi bằng khi cần thiết.
Bước 3: Làm việc trực tiếp với ngân hàng
Chủ tài sản nên trực tiếp làm việc với bộ phận tín dụng, bộ phận quản lý tài sản bảo đảm và bộ phận pháp chế của ngân hàng.
Nếu bên vay cố tình không phối hợp nhưng ngân hàng xác định toàn bộ nghĩa vụ đã chấm dứt thì chủ tài sản có thể đề nghị ngân hàng xử lý trực tiếp với tư cách là bên bảo đảm.
Bước 4: Nộp hồ sơ xóa đăng ký
Khi đã có đủ Phiếu yêu cầu, Giấy chứng nhận và văn bản xác nhận cần thiết, chủ tài sản nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền.
Toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm chấm dứt là căn cứ xóa đăng ký theo Điều 20 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP.
Bước 5: Khởi kiện nếu không được phối hợp
Nếu ngân hàng hoặc bên vay vẫn không thực hiện, chủ tài sản có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu:
Xác định nghĩa vụ được bảo đảm đã chấm dứt;
Xác định hợp đồng thế chấp đã chấm dứt;
Buộc giao trả Giấy chứng nhận và hồ sơ tài sản;
Buộc ký, thực hiện thủ tục xóa đăng ký thế chấp;
Buộc chấm dứt hành vi cản trở quyền sở hữu;
Bồi thường thiệt hại;
Thanh toán phạt vi phạm nếu có thỏa thuận.
Trường hợp có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật xác định biện pháp bảo đảm đã chấm dứt, chủ tài sản có thể sử dụng văn bản đó làm căn cứ thực hiện thủ tục đăng ký và yêu cầu thi hành án.
7. Không giải chấp có phải là tội chiếm giữ trái phép tài sản?
Đây là vấn đề cần được đánh giá thận trọng.
Điều 176 Bộ luật Hình sự quy định tội chiếm giữ trái phép tài sản đối với người cố tình không trả lại tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên hoặc tài sản là di vật, cổ vật sau khi được yêu cầu, nhưng tài sản đó phải thuộc trường hợp bị giao nhầm hoặc do người đó tìm được, bắt được. Khung hình phạt cơ bản có thể là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù; trường hợp tài sản trị giá từ 200 triệu đồng trở lên hoặc là bảo vật quốc gia thì mức hình phạt cao hơn.
Như vậy, để cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản, không chỉ cần chứng minh người đang giữ tài sản cố tình không trả mà còn phải chứng minh nguồn gốc tài sản rơi vào đúng trường hợp luật định.
Trong quan hệ bảo đảm tín dụng, Giấy chứng nhận hoặc tài sản thường được giao trên cơ sở tự nguyện, theo hợp đồng thế chấp, hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng ủy quyền hoặc thỏa thuận bảo lãnh. Tài sản không phải được giao nhầm, cũng không phải do người giữ tìm được hoặc bắt được.
Vì vậy, việc bên vay hoặc ngân hàng không phối hợp trả lại tài sản sau khi nghĩa vụ chấm dứt không đương nhiên cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176.
Đây thường trước hết là tranh chấp dân sự, hợp đồng hoặc tranh chấp về biện pháp bảo đảm.
Chỉ khi hồ sơ có thêm những tình tiết thể hiện hành vi chiếm đoạt độc lập, gian dối, sử dụng trái phép, chuyển nhượng tài sản, che giấu giấy tờ, tạo dựng nghĩa vụ giả hoặc có hành vi khác đáp ứng đầy đủ dấu hiệu của một tội phạm cụ thể thì mới có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.
Việc một bên chậm trả, né tránh làm việc hoặc vi phạm nghĩa vụ hợp đồng dù đáng bị xử lý nhưng không thể tự động chuyển hóa thành tội phạm. Nguyên tắc cơ bản là trách nhiệm hình sự chỉ được đặt ra khi hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo luật.
8. Giữ Giấy chứng nhận và chiếm giữ bất động sản có giống nhau không?
Cần phân biệt Giấy chứng nhận với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Giấy chứng nhận là chứng thư pháp lý xác nhận quyền của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản. Việc một người giữ bản gốc Giấy chứng nhận có thể gây cản trở nghiêm trọng đối với việc thực hiện quyền của chủ tài sản, nhưng người giữ Giấy chứng nhận không vì thế trở thành chủ sở hữu bất động sản.
Trong tố tụng, cần xác định rõ yêu cầu là:
Trả lại bản gốc Giấy chứng nhận;
Chấm dứt hợp đồng thế chấp;
Xóa đăng ký biện pháp bảo đảm;
Chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất;
Hay trả lại chính tài sản đang bị người khác quản lý, sử dụng.
Nếu xác định không chính xác đối tượng tranh chấp, yêu cầu khởi kiện có thể bị thiếu hoặc không giải quyết triệt để quyền lợi của chủ tài sản.
9. Những chứng cứ cần thu thập
Hồ sơ nên có đầy đủ:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản hoặc bản sao;
Hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo đảm;
Hợp đồng tín dụng và phụ lục;
Hợp đồng mượn tài sản, thỏa thuận bảo lãnh hoặc giấy ủy quyền;
Chứng từ thanh toán khoản vay;
Văn bản ngân hàng xác nhận dư nợ bằng 0;
Văn bản xác nhận toàn bộ nghĩa vụ đã chấm dứt;
Công văn yêu cầu giải chấp;
Tài liệu chứng minh việc đã giao nhận công văn;
Email, tin nhắn và biên bản làm việc;
Tài liệu chứng minh bên vay hoặc ngân hàng từ chối phối hợp;
Chứng cứ về thiệt hại;
Kết quả tra cứu tình trạng đăng ký thế chấp.
Đặc biệt, công văn yêu cầu phải thể hiện rõ thời hạn trả lại tài sản và hậu quả pháp lý nếu bên đang giữ không thực hiện. Đây là chứng cứ quan trọng để chứng minh việc chủ sở hữu đã chính thức yêu cầu nhưng bên còn lại vẫn kéo dài.
Kết luận
Khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm đã chấm dứt, quan hệ thế chấp không còn căn cứ để tiếp tục tồn tại. Chủ tài sản có quyền yêu cầu ngân hàng và bên vay phối hợp trả giấy tờ, giải chấp và xóa đăng ký biện pháp bảo đảm.
Tuy nhiên, văn bản “dư nợ bằng 0” cần được xem xét trong tổng thể hợp đồng để xác định có còn nghĩa vụ nào khác được bảo đảm hay không.
Nếu bên vay hoặc ngân hàng không phối hợp, chủ tài sản nên ưu tiên thực hiện đầy đủ các bước: xác minh nghĩa vụ, gửi công văn chính thức, làm việc trực tiếp với ngân hàng, hoàn thiện hồ sơ xóa đăng ký và khởi kiện khi cần thiết.
Việc không trả tài sản hoặc không giải chấp không đương nhiên cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản. Hướng xử lý hình sự chỉ được đặt ra khi hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể; không nên hình sự hóa một quan hệ vốn chỉ là tranh chấp dân sự hoặc vi phạm hợp đồng.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
