Chưa phân loại

TIỀN BẢN QUYỀN TRONG LĨNH VỰC ĐIỆN ẢNH, MỸ THUẬT, NHIẾP ẢNH: NHỮNG QUY ĐỊNH ĐÁNG CHÚ Ý TẠI NGHỊ ĐỊNH 287/2026/NĐ-CP

14/08/2026 Admin_Luat 11 phút đọc

Nghị định 287/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tiền bản quyền trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản sẽ có hiệu lực từ ngày 01/9/2026. Đây là văn bản mới đáng chú ý trong lĩnh vực quyền tác giả, đặc biệt đối với hoạt động sáng tạo sử dụng nguồn ngân sách nhà nước và việc khai thác, sử dụng các quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý.

Đáng chú ý, Nghị định không chỉ đưa ra nguyên tắc xác định tiền bản quyền mà còn quy định các khung tỷ lệ cụ thể đối với một số chức danh sáng tạo trong lĩnh vực điện ảnh, mức tiền bản quyền đối với tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh và cơ chế thanh toán, phân chia tiền bản quyền.

Nghị định 287/2026/NĐ-CP áp dụng trong những trường hợp nào?

Nghị định 287/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 17/7/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/9/2026. Nghị định quy định chi tiết một số nội dung được giao tại Điều 42 Luật Sở hữu trí tuệ liên quan đến tiền bản quyền trong các lĩnh vực điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí và xuất bản.

Theo đó, cần lưu ý rằng Nghị định không phải là văn bản quy định một mức giá chung cho mọi giao dịch mua bán, chuyển nhượng hoặc cấp phép quyền tác giả trên thị trường.

Phạm vi điều chỉnh tập trung vào hai nhóm trường hợp:

  • Tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo tác phẩm bằng nguồn ngân sách nhà nước theo phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu;
  • Tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý.

Đối tượng áp dụng bao gồm tổ chức, cá nhân sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước; tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý; cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Đối với các giao dịch bản quyền giữa các chủ thể tư nhân, mức tiền bản quyền về nguyên tắc vẫn được xác lập theo thỏa thuận và các quy định của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.

Nguyên tắc xác định và thanh toán tiền bản quyền

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 287/2026/NĐ-CP, quy định chung việc trả tiền bản quyền như sau:

Đối với hoạt động sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu và các quy định chuyên ngành.

Đối với việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý, tiền bản quyền được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý và bên khai thác, sử dụng. Việc xác định mức tiền bản quyền phải căn cứ vào pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan, Nghị định 287/2026/NĐ-CP và pháp luật có liên quan.

Việc thanh toán tiền bản quyền có thể được thực hiện theo một hoặc nhiều phương thức, bao gồm:

  • Thanh toán một lần cho toàn bộ việc khai thác, sử dụng;
  • Thanh toán theo từng lần khai thác, sử dụng;
  • Thanh toán định kỳ theo tháng, quý hoặc năm;
  • Các phương thức khác do các bên thỏa thuận phù hợp với tính chất của việc khai thác, sử dụng và quy định pháp luật.

Một điểm đáng chú ý khác là Nghị định cho phép phát sinh tiền bản quyền khuyến khích trong một số trường hợp đặc thù. Theo đó, tiền bản quyền khuyến khích là khoản tiền bản quyền được trả thêm cho tác giả, chức danh sáng tạo khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định này. Chẳng hạn, tác phẩm thuộc đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số hoặc một số loại hình nghệ thuật được quy định có thể được hưởng khoản tiền bản quyền khuyến khích theo quy định cụ thể của Nghị định.

Tiền bản quyền trong lĩnh vực điện ảnh có gì đáng chú ý?

Đối với tác phẩm điện ảnh được sáng tạo theo phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu, tiền bản quyền được chi trả theo định mức kinh tế – kỹ thuật trong lĩnh vực điện ảnh.

Đặc biệt, căn cứ vào thể loại và chất lượng tác phẩm, một số chức danh sáng tạo còn được hưởng tiền bản quyền tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên giá thành sản xuất phim, trong đó không bao gồm chi phí bán hàng, chi phí quản lý và chi phí tài chính.

1. Đối với phim truyện

Một số tỷ lệ đáng chú ý gồm:

Chức danh Tỷ lệ tiền bản quyền
Biên kịch 2,25% – 2,75%
Đạo diễn 2,50% – 3,00%
Đạo diễn hình ảnh 1,70% – 2,10%
Thiết kế âm thanh 1,50% – 1,80%
Nhạc sĩ 1,50% – 1,90%
Họa sĩ thiết kế mỹ thuật 1,20% – 1,50%
Người làm kỹ xảo 0,80% – 1,10%
Người làm hóa trang 0,80% – 1,10%
Người dựng phim 0,70% – 0,80%

2. Đối với phim tài liệu, phim khoa học

Mức tỷ lệ được xác định theo từng chức danh. Trong đó, biên kịch và đạo diễn được áp dụng tỷ lệ từ 4,21% đến 5,50%; quay phim từ 2,15% đến 3,00%; người dựng phim, thiết kế âm thanh và nhạc sĩ từ 0,86% đến 1,40%.

3. Đối với phim hoạt hình

Biên kịch và đạo diễn được áp dụng tỷ lệ từ 3,65% đến 4,95%; họa sĩ chính từ 2,70% đến 3,70%; họa sĩ dàn cảnh – diễn xuất từ 2,50% đến 3,50%; quay phim từ 1,80% đến 2,50% và các chức danh khác được xác định theo khung riêng.

Đối với phim kết hợp nhiều loại hình, tiền bản quyền được áp dụng theo loại hình chính của phim.

Đáng lưu ý, khung tỷ lệ này được áp dụng theo chức danh sáng tạo, không phụ thuộc vào số lượng người cùng đảm nhiệm một chức danh. Do đó, trường hợp có nhiều người cùng đảm nhiệm một chức danh cần có cơ chế phân chia tiền bản quyền phù hợp với quy định về quyền tác giả, quyền liên quan và thỏa thuận giữa các bên.

4. Một số trường hợp đặc thù trong sáng tạo tác phẩm điện ảnh

Nghị định 287/2026/NĐ-CP cũng quy định một số trường hợp đặc thù, cụ thể Điều 5 Nghị định này quy định:

Trường hợp tác phẩm văn học, sân khấu hoặc loại hình tác phẩm tương tự được chuyển thể thành kịch bản điện ảnh, biên kịch chuyển thể hưởng 70% mức tiền bản quyền đối với biên kịch của tác phẩm cùng thể loại, phần còn lại được trả cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng để chuyển thể.

Đối với tác phẩm điện ảnh thuộc đề tài về trẻ em hoặc dân tộc thiểu số, các chức danh sáng tạo thuộc phạm vi quy định còn được hưởng tiền bản quyền khuyến khích bằng 5% đến 10% mức tiền bản quyền của tác phẩm cùng thể loại.

Ngoài ra, trường hợp tác phẩm điện ảnh có chi phí sản xuất cao do yêu cầu đặc biệt về thiết bị, vật liệu hoặc chi phí lớn khi quay tại nước ngoài, mức tiền bản quyền được xác định trên cơ sở thỏa thuận cụ thể hoặc căn cứ tổng chi phí sản xuất đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, nhưng không quá hai lần mức tiền bản quyền của tác phẩm điện ảnh có chi phí sản xuất bình quân được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Tiền bản quyền đối với tác phẩm mỹ thuật được xác định như thế nào?

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 287/2026/NĐ-CP về tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm mỹ thuật như sau:

Đối với việc sáng tạo tác phẩm mỹ thuật bằng nguồn ngân sách nhà nước, Nghị định quy định bên sử dụng tác phẩm mẫu thỏa thuận với tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả về tiền bản quyền theo tỷ lệ phần trăm giá thành tác phẩm, nhưng không vượt quá mức được quy định trong Nghị định.

Khung tỷ lệ được phân theo giá thành tác phẩm. Chẳng hạn:

  • Tác phẩm có giá thành đến 1 triệu đồng: mức tối đa 60%;
  • Từ trên 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng: từ 60% đến 40%;
  • Từ trên 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng: từ 40% đến 28%;
  • Từ trên 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng: từ 19% đến 18%;
  • Từ trên 1 tỷ đồng đến 2 tỷ đồng: từ 9,9% đến 8,9%.

Đối với tác phẩm có giá thành trên 10 tỷ đồng, tiền bản quyền được tính bằng mức tiền bản quyền của tác phẩm có giá thành 10 tỷ đồng cộng thêm 1% phần giá thành vượt quá 10 tỷ đồng.

Đối với trường hợp tác giả chỉ thực hiện phần vẽ mẫu nhưng chưa trực tiếp thể hiện thành tác phẩm mẫu, tác giả được hưởng từ 50% đến 70% mức tiền bản quyền tương ứng; phần còn lại được trả cho những người thực hiện tác phẩm dựa trên mẫu vẽ.

Đối với tác phẩm mỹ thuật phái sinh, tác giả tác phẩm phái sinh được hưởng từ 40% đến 55% mức tiền bản quyền theo quy định, phần còn lại được trả cho chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh.

Tiền bản quyền khai thác, sử dụng tác phẩm mỹ thuật và nhiếp ảnh

Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 287/2026/NĐ-CP về tiền bản quyền khai thác, sử dụng tác phẩm mỹ thuật, tác phẩm nhiếp ảnh như sau:

Đối với hoạt động khai thác, sử dụng tác phẩm mỹ thuật và tác phẩm nhiếp ảnh mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý, Nghị định quy định mức tiền bản quyền trong một số trường hợp theo mức lương cơ sở.

Đối với hoạt động trưng bày, triển lãm, mức tiền bản quyền được phân theo quy mô. Ví dụ:

Quy mô trưng bày, triển lãm Tác phẩm mỹ thuật Tác phẩm nhiếp ảnh
Quốc tế 1,00 – 1,80 mức lương cơ sở 0,80 – 1,20 mức lương cơ sở
Quốc gia 1,00 – 1,50 0,80 – 1,00
Khu vực 0,60 – 0,75 0,40 – 0,50
Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương 0,50 – 0,60 0,30 – 0,40
Xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh 0,20 – 0,30 0,10 – 0,20
Ngành 0,50 – 0,60 0,30 – 0,40

Mức lương cơ sở làm đơn vị tính được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng hoặc theo thỏa thuận giữa các bên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đối với việc khai thác, sử dụng tác phẩm mỹ thuật hoặc nhiếp ảnh chưa được quy định cụ thể, tiền bản quyền được xác định theo định mức kinh tế – kỹ thuật của lĩnh vực chuyên ngành có liên quan. Trường hợp không có định mức, các bên có thể thỏa thuận về mức tiền bản quyền.

Đối với hoạt động từ thiện, liên hoan, giao lưu hoặc các hoạt động khác không nhằm mục đích thương mại, tiền bản quyền do bên khai thác, sử dụng thỏa thuận với chủ sở hữu quyền tác giả hoặc cơ quan đại diện chủ sở hữu, đại diện quản lý.

Có phải mọi trường hợp sử dụng tác phẩm đều phải áp dụng mức tiền bản quyền tại Nghị định 287/2026/NĐ-CP?

Nghị định 287/2026/NĐ-CP không nên được hiểu là bảng giá bắt buộc áp dụng cho mọi giao dịch bản quyền giữa cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức trên thị trường.

Phạm vi của Nghị định gắn với các trường hợp sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước hoặc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý. Đối với những giao dịch bản quyền thông thường giữa các chủ thể không thuộc phạm vi này, việc xác định tiền bản quyền vẫn cần căn cứ vào hợp đồng, thỏa thuận của các bên và quy định chung của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.

Do đó, khi áp dụng Nghị định vào một trường hợp cụ thể, trước hết cần xác định đúng đối tượng, nguồn kinh phí, chủ thể quyền và hình thức khai thác tác phẩm, thay vì chỉ căn cứ vào loại hình tác phẩm để áp dụng một mức tiền bản quyền cố định.

Kết luận

Nghị định 287/2026/NĐ-CP là một bước bổ sung quan trọng trong cơ chế xác định và thanh toán tiền bản quyền đối với các lĩnh vực sáng tạo đặc thù. Việc quy định cụ thể khung tỷ lệ đối với các chức danh sáng tạo điện ảnh, khung tiền bản quyền đối với tác phẩm mỹ thuật và mức chi trả khi khai thác, sử dụng tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh góp phần tạo cơ sở rõ ràng hơn cho quá trình lập dự toán, giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu và khai thác các tác phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh.

Tuy nhiên, khi áp dụng Nghị định cần lưu ý đúng phạm vi điều chỉnh. Không phải mọi hoạt động sử dụng phim, tranh, ảnh hoặc tác phẩm nghệ thuật đều mặc nhiên áp dụng các mức tiền bản quyền tại Nghị định này. Việc xác định nghĩa vụ thanh toán cần được xem xét đồng thời trên cơ sở chủ thể quyền, nguồn kinh phí, hình thức khai thác và bản chất của từng giao dịch.

Các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có hoạt động sáng tạo, quản lý hoặc khai thác quyền tác giả nên chủ động rà soát hợp đồng, hồ sơ quyền tác giả và cơ chế thanh toán để bảo đảm quyền lợi hợp pháp, hạn chế tranh chấp và tuân thủ quy định mới kể từ ngày 01/9/2026.

CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin