THUÊ NGƯỜI GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH PHẢI THÔNG BÁO VỚI UBND CẤP XÃ?
Trong đời sống hiện nay, việc thuê người giúp việc gia đình khá phổ biến, đặc biệt đối với các gia đình có trẻ nhỏ, người cao tuổi hoặc người cần được chăm sóc. Tuy nhiên, không ít người sử dụng lao động vẫn cho rằng đây chỉ là thỏa thuận dân sự giữa gia đình và người giúp việc nên không cần thực hiện các thủ tục liên quan.
Thực tế, lao động giúp việc gia đình là một quan hệ lao động được pháp luật điều chỉnh. Người sử dụng lao động không chỉ có trách nhiệm thỏa thuận về công việc, tiền lương mà còn phải thực hiện một số nghĩa vụ về hợp đồng, thông báo với cơ quan có thẩm quyền và bảo đảm quyền lợi của người lao động.
Đáng chú ý, Nghị định 283/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 10/9/2026, tiếp tục quy định chế tài đối với một số hành vi vi phạm liên quan đến việc sử dụng lao động giúp việc gia đình.
Thế nào là lao động giúp việc gia đình?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 161 Bộ luật Lao động 2019 định nghĩa về lao động là người giúp việc gia đình như sau:
“Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình.
Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại.”
Như vậy, việc thuê một người làm việc thường xuyên cho gia đình không đơn thuần là một thỏa thuận thuê dịch vụ mà có thể làm phát sinh quan hệ lao động, từ đó kéo theo các quyền và nghĩa vụ tương ứng của cả hai bên.
Khi nào phải thông báo với UBND cấp xã?
Theo quy định tại Điều 90 Nghị định 145/2020/NĐ-CP về nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động như sau:
“Điều 90. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động
- Thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 163, 164 và 165 của Bộ luật Lao động.
- Người sử dụng lao động phải thông báo cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) việc sử dụng lao động, chấm dứt sử dụng lao động tương ứng theo Mẫu số 02/PLV, Mẫu số 03/PLV Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng lao động hoặc chấm dứt hợp đồng lao động.”
Theo đó, thời hạn thông báo là 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng lao động hoặc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho Ủy ban nhân dân xã về tình hình sử dụng lao động giúp việc.
Đây là nghĩa vụ mà các gia đình thường dễ bỏ qua vì cho rằng việc thuê người giúp việc chỉ mang tính chất nội bộ.
Lưu ý: Không phải mọi trường hợp có người đến nhà làm việc đều được xác định là quan hệ lao động giúp việc gia đình. Chẳng hạn, trường hợp hộ gia đình thuê dịch vụ giúp việc theo giờ thông qua một công ty hoặc đơn vị cung ứng dịch vụ, người làm việc về nguyên tắc không được xác định là người giúp việc gia đình được hộ gia đình trực tiếp tuyển dụng theo quy định của Bộ luật Lao động. Khi đó, cần xác định quan hệ pháp lý giữa hộ gia đình, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ và người thực hiện công việc để xác định nghĩa vụ tương ứng.
Không thông báo có thể bị xử phạt
Một trong những điểm người sử dụng lao động cần đặc biệt lưu ý là không thông báo cho UBND cấp xã về việc sử dụng hoặc chấm dứt sử dụng lao động giúp việc gia đình có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
Theo quy định tại Điều 28 Nghị định 283/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm lao động là người giúp việc gia đình như sau:
“Điều 28. Vi phạm quy định về lao động là người giúp việc gia đình
- Phạt cảnh cáo đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
- a) Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình;
- b) Không trả tiền tàu xe đi đường khi lao động là người giúp việc gia đình thôi việc về nơi cư trú, trừ trường hợp lao động là người giúp việc gia đình chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn.
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
- a) Không thông báo cho Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu việc sử dụng lao động hoặc chấm dứt việc sử dụng lao động là người giúp việc gia đình theo quy định;
- b) Đã bị xử phạt cảnh cáo đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này nhưng lại tiếp tục vi phạm […]”
Theo đó, hành vi không thông báo theo quy định có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân. Trường hợp người sử dụng lao động là tổ chức thì mức phạt được áp dụng theo nguyên tắc tương ứng đối với tổ chức theo Nghị định.
Kết luận
Việc thuê người giúp việc gia đình tưởng chừng là một thỏa thuận đơn giản trong đời sống nhưng thực tế có thể làm phát sinh quan hệ lao động và nhiều nghĩa vụ pháp lý đối với người sử dụng lao động.
Do đó, các gia đình đang trực tiếp thuê người giúp việc nên chủ động rà soát lại hợp đồng, thủ tục thông báo và việc thực hiện các quyền lợi của người lao động, đặc biệt trước thời điểm Nghị định 283/2026/NĐ-CP có hiệu lực.
Tuân thủ đúng quy định ngay từ đầu không chỉ giúp người sử dụng lao động tránh bị xử phạt mà còn góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người giúp việc, xây dựng quan hệ lao động minh bạch và hạn chế tranh chấp phát sinh về sau.
