Chưa phân loại

LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ: MỞ RỘNG CƠ HỘI TIẾP CẬN CÔNG LÝ CHO NGƯỜI DÂN

06/08/2026 Admin_Luat 10 phút đọc

Trợ giúp pháp lý là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân và nguyên tắc bình đẳng trong tiếp cận công lý. Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, những người thuộc diện được hưởng chính sách có thể tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong các vụ việc dân sự, hành chính, hình sự và các lĩnh vực pháp luật khác.

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 05/2026/QH16 (sau đây gọi tắt là Luật số 05/2026/QH16) gồm 03 Điều, trong đó: Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (sửa đổi, bổ sung 24 Điều, bãi bỏ 02 Điều); Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan; Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành. Luật số 05/2026/QH16 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.

Trợ giúp pháp lý là gì?

Theo quy định tại Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 định nghĩa về trợ giúp pháp lý như sau:

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

Hoạt động trợ giúp pháp lý được thực hiện thông qua nhiều hình thức như:

  • Tư vấn pháp luật;
  • Tham gia tố tụng;
  • Đại diện ngoài tố tụng;
  • Các hình thức trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật.

Những điểm mới nổi bật của Luật sửa đổi

1. Mở rộng đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý

Nếu như trước đây, đối tượng được trợ giúp pháp lý chủ yếu là người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, trẻ em, người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và một số nhóm yếu thế khác, thì Luật sửa đổi đã bổ sung thêm nhiều trường hợp cần được Nhà nước hỗ trợ nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận công lý trên thực tế. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý như sau:

Điều 7. Người được trợ giúp pháp lý

  1. Người có công với cách mạng; cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ.
  2. Người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo.
  3. Người nhiễm chất độc da cam.
  4. Người khuyết tật.
  5. Trẻ em.
  6. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; người dân tộc thiểu số rất ít người.
  7. Người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV.
  8. Người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại.
  9. Người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi sự kiện này.
  10. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
  11. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người.
  12. Cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
  13. Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý.
  14. Người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật.”.

Việc mở rộng đối tượng thụ hưởng phản ánh định hướng lấy người dân làm trung tâm, đặc biệt là những nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội, phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp năm 2013.

2. Đơn giản hóa thủ tục hành chính 

Luật sửa đổi tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý theo hướng giảm giấy tờ, tạo điều kiện để người dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ pháp lý miễn phí.

Theo đó, nhiều nội dung trước đây được quy định cụ thể trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã được lược bỏ khỏi luật và giao cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn thực hiện. Có thể kể đến như: quy định về hồ sơ bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý (khoản 2 Điều 21); thời hạn xem xét bổ nhiệm và cấp Thẻ trợ giúp viên pháp lý (khoản 4 Điều 21); hồ sơ, trình tự miễn nhiệm và thu hồi Thẻ trợ giúp viên pháp lý (Điều 22); thời hạn cử người thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng (khoản 2 Điều 32 và khoản 2 Điều 33); quy trình phối hợp xác minh vụ việc trợ giúp pháp lý (Điều 34); quy trình giải quyết kiến nghị trong hoạt động trợ giúp pháp lý (Điều 36) cũng như trình tự giải quyết khiếu nại, tố cáo (Điều 45)hiện nay đã được điều chỉnh theo hướng tinh gọn hơn, không quy định cứng trong luật mà giao Chính phủ hoặc là Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết.

Việc chuyển các quy định mang tính thủ tục từ luật sang văn bản quy định chi tiết không làm thay đổi bản chất của chế định trợ giúp pháp lý, mà hướng đến mục tiêu đơn giản hóa kỹ thuật lập pháp, giảm tình trạng quy định quá chi tiết trong luật và nâng cao tính chủ động trong công tác quản lý, điều hành. Đồng thời, cơ chế này cũng giúp việc sửa đổi, bổ sung các quy trình nghiệp vụ khi phát sinh yêu cầu thực tiễn được thực hiện nhanh chóng hơn mà không phải tiến hành sửa đổi luật.

3. Tăng cường vai trò của Ủy ban nhân dân cấp xã trong hoạt động trợ giúp pháp lý 

Một trong những điểm mới của Luật là bổ sung quy định về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác trợ giúp pháp lý. Việc quy định trực tiếp nội dung này trong luật không chỉ nâng cao giá trị pháp lý của cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước mà còn tạo cơ sở thống nhất cho việc triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý trên phạm vi cả nước.

Theo quy định mới, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã đã được xác định rõ với tư cách là một nhiệm vụ thường xuyên trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, thay vì chỉ mang tính hỗ trợ hoặc giới thiệu như trước đây. Sự thay đổi này góp phần khẳng định vai trò của chính quyền cấp cơ sở trong việc chủ động phát hiện, hướng dẫn và kết nối những người thuộc diện được trợ giúp pháp lý với các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, việc luật hóa trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã còn tạo tiền đề nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc bảo đảm quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý của người dân. Với lợi thế là cấp chính quyền gần dân nhất, am hiểu điều kiện thực tế và hoàn cảnh của người dân trên địa bàn, Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc đưa chính sách trợ giúp pháp lý đến đúng đối tượng, đúng thời điểm, qua đó góp phần bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý được thực hiện hiệu quả, thiết thực ngay từ cơ sở.

4. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Lần đầu tiên, các nội dung liên quan đến xây dựng, quản lý và khai thác hạ tầng số phục vụ công tác trợ giúp pháp lý được quy định trực tiếp trong luật, thể hiện định hướng hiện đại hóa lĩnh vực trợ giúp pháp lý, phù hợp với chủ trương chuyển đổi số quốc gia và yêu cầu nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm tạo điều kiện để người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý một cách thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Theo quy định của Luật, Bộ Tư pháp được giao chủ trì tổ chức triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ số trong hoạt động trợ giúp pháp lý; đồng thời có trách nhiệm xây dựng, quản lý, vận hành và thường xuyên cập nhật, nâng cấp hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về trợ giúp pháp lý. Đáng chú ý, cơ sở dữ liệu này sẽ được kết nối và chia sẻ với Cổng Pháp luật quốc gia, góp phần hình thành hệ thống dữ liệu thống nhất, đồng bộ, tạo nền tảng cho việc xây dựng môi trường số trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý.

Bên cạnh vai trò của Bộ Tư pháp, Luật cũng xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, chính quyền địa phương và các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xây dựng, quản lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu trợ giúp pháp lý. Theo đó, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp để bảo đảm cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý tại địa phương được kết nối, liên thông với hệ thống dữ liệu chung; đồng thời, các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng có trách nhiệm tham gia cung cấp, tích hợp và khai thác dữ liệu theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao. Cơ chế phối hợp này góp phần hình thành mạng lưới dữ liệu liên thông, phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý và hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin, dịch vụ pháp lý một cách thuận lợi.

Có thể thấy, việc bổ sung các quy định về chuyển đổi số không chỉ hướng đến mục tiêu hiện đại hóa hoạt động trợ giúp pháp lý mà còn góp phần tăng cường tính công khai, minh bạch trong quá trình cung cấp dịch vụ, cắt giảm thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả quản lý. Quan trọng hơn, các quy định mới tạo điều kiện để người dân, không phụ thuộc vào vị trí địa lý, có thể tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý thông qua môi trường số, qua đó từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Chính phủ số, xã hội số và bảo đảm quyền tiếp cận công lý trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.

Kết luận

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý đã tạo ra nhiều thay đổi tích cực trong việc bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của công dân. Việc mở rộng đối tượng được hưởng chính sách, đơn giản hóa thủ tục, nâng cao chất lượng dịch vụ và ứng dụng công nghệ thông tin sẽ góp phần giúp người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, tiếp cận các dịch vụ pháp lý miễn phí một cách thuận lợi và hiệu quả hơn.

Đối với cá nhân thuộc diện được trợ giúp pháp lý, việc nắm rõ các quy định mới không chỉ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà còn bảo đảm tận dụng đầy đủ chính sách hỗ trợ của Nhà nước khi phát sinh các vấn đề pháp lý trong thực tiễn.

 

CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin